Phần nhô lên ở giữa thân tre gọi là "đốt" (tiết - 节), các cành tre đều từ đây mà mọc ra, vì thế mới có thành ngữ "tiết ngoại sinh chi" (节外生枝) – chỉ việc nảy sinh thêm những rắc rối ngoài dự tính.
"Tiết" là điểm kết nối của cây tre, cũng giống như điểm kết nối giữa các khúc xương trên cơ thể người được gọi là "quan tiết" (关节 - khớp xương).
Một năm được chia thành 24 đoạn, chính là 24 "tiết khí" (节气).
Các đốt tre chia thân tre thành nhiều đoạn rất đều đặn, nên việc phân đoạn có quy luật được gọi là "tiết tấu" (节奏 - nhịp điệu).
Phẩm hạnh của mỗi người được gọi là tiết tháo 节操, giống như từng đốt tre sống ngay thẳng
Những thời điểm then chốt có tác dụng quyết định được gọi là "tiết cốt nhãn" (节骨眼 - mắt xích quan trọng).
Khi chẻ đôi cây tre, lớp màng trắng bên trong vách gọi là "bát" (笨 - vốn nghĩa gốc là lớp màng trắng của tre). Một người nếu chỉ có vẻ bề ngoài mà đầu óc không linh hoạt, không làm được việc thì cũng bị gọi là "bát" (笨 - ngốc nghếch).
Ngày xưa, người ta vót tre thành miếng để viết chữ, gọi đó là thẻ tre - "trúc giản" (竹简). Một thẻ tre không viết được nhiều chữ, nên khi viết trên thẻ tre không được nói lời thừa thãi, đó gọi là "giản khiết" (简洁 - ngắn gọn, súc tích).
Những thẻ tre đã viết chữ xong được dùng dây bện lại với nhau thì tạo thành "sách" (册). Ngày nay, những cuốn sách đã đóng thành tập cũng được gọi là "sách" (quyển). Nếu viết sai, người ta phải dùng dao để cạo bỏ chữ đó đi, hành động này gọi là "san" (chữ sách thêm bộ đao) (删 - gọt bỏ), và hiện nay chúng ta vẫn dùng từ "san trừ" (删除 - xóa bỏ).
Khi xếp những thẻ tre dài ngắn khác nhau cho bằng đầu, hành động đó gọi là "đẳng" (等 - bằng nhau - có bộ trúc bên trên). Khi số lượng và địa vị cao bằng nhau thì gọi là "bình đẳng" (平等); còn khi số lượng và địa vị không bằng nhau, sẽ xuất hiện "đẳng cấp" (等级). Một cuộn thẻ tre cũng được gọi là "thiên" (篇); phần viết ở đầu gọi là "khai thiên" (开篇 - mở bài), những bài văn nổi tiếng gọi là "danh thiên" (名篇).
Người xưa vót tre thành những chiếc que nhỏ để thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia và khai căn; công cụ tính toán cổ xưa này gọi là "trù" (筹 - thẻ tính). Một người tinh thông tính toán bằng thẻ, dù ngồi trong trướng bạt ở hậu phương vẫn có thể mưu tính được toàn cục, gọi là "vận trù duy ác" (运筹帷幄 - bày mưu lập kế). Nếu ai đó có nhiều hơn người khác một bậc, thì được gọi là "lược thắng nhất trù" (略胜一筹 - giỏi hơn một bậc).